10 Bài thơ hay và nổi tiếng nhất của nhà thơ Xuân Quỳnh. 1. Sóng (1967) Bài thơ sóng có lẽ là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà thơ xuân Quỳnh. Bài thơ này được viết vào năm 1967, in trong tập thơ “Hoa dọc chiến hào” và được xuất bản năm 1968.
Chiều hôm nhớ nhà là một đề tài quen thuộc, được nói đến trong nhiều bài thơ nổi tiếng như Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu, Ngắm cảnh chiều ở Hán Dương của Nguyễn Du. Nhưng với Bà Huyện Thanh Quan, chủ đề đó đã được ghi dấu ấn đậm nét bằng một phong cách sử
Bài thơ cũng là tấm lòng của Tố Hữu đối với đồng bào Việt Bắc, hay cũng là tấm lòng của những người chiến sĩ cách mạng trở về đối với đồng bào Việt Bắc. >> Xem thêm: Phân tích khổ thơ 5 của bài thơ Người con trung kiên của nhà thơ Tố Hữu cực hay
Những bài thơ hay về cha. Nhớ Quê Nhà Tuổi Thơ. Nhớ từng năm tháng đã đi qua. Ai sống xa quê nỏ nhớ nhà. Nhớ dáng Cha cày nơi ruộng cận. Nhớ hình Mẹ cấy chốn đồng xa. Nhớ nồi cơm đỏ hương thơm ngát. Nhớ ấm chè xanh vị đậm đà. Nhớ lúc đón xuân ngồi bóc bánh
Tiêu đề trong “Văn đàn bảo giám” chép là “Nhớ nhà”. Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Chiều Hôm Nhớ Nhà” của tác giả Nguyễn Thị Hinh. Thuộc danh mục Thơ Bà Huyện Thanh Quan trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những
. Bộ đề Đọc hiểu Chiều hôm nhớ nhàChiều hôm nhớ nhà đọc hiểu - Chiều hôm nhớ nhà là một tuyệt phẩm của bà Huyện Thanh Quan Nguyễn Thị Hinh mang một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật sử dụng nhiều từ Hán Việt tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính. Trong bài viết này Hoatieu xin chia sẻ tổng hợp bộ đề đọc hiểu văn bản Chiều hôm nhớ nhà của bà Huyện Thanh Quan, mời các bạn cùng tham các bạn cùng tham gia group Bạn Đã Học Bài Chưa? để cập nhật các kiến thức mới bổ ích về học tập cùng với Hoatieu bài Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ trang 64Đọc hiểu Chiều hôm nhớ nhà - mẫu 1Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏiChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn.Chiều hôm nhớ nhà - Bà Huyện Thanh QuanCâu 1 Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt của văn bản trên?Câu 2 Xác định các từ hán việt, từ láy và từ ghép trong các câu thơ sau trong đoạn tríchChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônCâu 3 Đọc bài thơ em hiểu tâm trạng gì của Bà Huyện Thanh Quan?Trả lờiCâu 1- Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật- Phương thức biểu đạt Biểu cảm kết hợp miêu tảCâu 2- Từ Hán Việtngư ông,hoàng hôn,hàn ôn,mục tử, lữ thứ- Từ ghépcổ thôn- Từ láy bảng lảngCâu 3Em hiểu tâm trạng của bà Huyện Thanh Quan Đó là một tâm trạng buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái của khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Bài thơ chính là một niềm tâm sự,được giãy bày khi đi tới vùng đất lạ của tác hiểu Chiều hôm nhớ nhà - mẫu 2Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu“Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống dồnGác mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thôn”Chiều hôm nhớ nhà – Bà Huyện Thanh Quan.Câu 1 Đọc đoạn thơ trên gợi cho em nhớ tới bài thơ nào cũng của Bà Huyện Thanh Quan? Hãy chép chính xác bài thơ và cho biết hoàn cảnh sáng tác bài thơ em vừa 2 Hãy tìm đại từ trong bài thơ em vừa chép và phân loại đại từ đó?Câu 3 Nêu tác dụng của từ láy được dùng trong hai câu thơ sau“Lom khom dưới núi tiều vài chúLác đác bên sông chợ mấy nhà”Câu 4 Từ bức tranh thiên nhiên trong bài thơ em tìm được ở câu 1, hãy viết đoạn văn 8-10 câu nêu cảm nghĩ của em về tình yêu quê hương đất nước , từ đó cho biết em cần làm gì để bồi dưỡng tình yêu quê hương. Trong đoạn văn có sử dụng một cặp từ đồng nghĩa và trái nghĩa gạch chân, chú thích.Trả lờiCâu 1Đọc đoạn thơ trên gợi cho em nhớ tới bài thơ Qua đèo tới Đèo Ngang, bóng xế tà,Cỏ cây chen đá, lá chen khom dưới núi, tiều vài chú,Lác đác bên sông, chợ mấy nước đau lòng con quốc quốc,Thương nhà mỏi miệng cái gia chân đứng lại trời, non, nước,Một mảnh tình riêng ta với ta→ Hoàn cảnh sáng tác khi bà được mời vào kinh đô Huế giữ chức Cung Trung giáo tập để dạy học cho công chúa và cung 2Đại từ ta dùng để xưng hôTuy nhiên chữ ta cuối cùng với vẫn là dùng để xưng 3Giúp câu thơ có vần, có nhịp điệu, đồng thời tạo ra khung cảnh hẻo lánh, cô đơn .Câu 4Ngay từ khi sinh ra, ai cũng có cho mình một quê hương. Cho dù quê hương ấy có lớn hay nhỏ, trù phú hay nghèo nàn thì trong chúng ta vẫn luôn ghi nhớ, khắc sâu trong tim hình ảnh quê hương thân thuộc ấy. Bởi quê hương chính là nơi gắn bó với chúng ta suốt một thời thơ ấu là nơi nuôi chúng ta lớn từ những hạt gạo ngọt thơm, củ khoai thơm phức. Rồi cũng tại quê hương, ta có nhiều kỉ niệm thân thương. Đó là kỉ niệm cùng lũ bạn chăn trâu, hát hoa trong buổi chiều cùng tiếng sáo vi vu, hay được chứng kiến cảnh cả đồng lúa một màu vàng tươi thật đẹp, hay mỗi khi Tết đến, cả xóm lại tụ họp một nơi cùng nhau làm bánh chưng để ăn. Chao ôi! Cái mùi thơm của của lá cùng với mùi tiêu và mùi thịt lợn luôn khiến cho ta cảm thấy thèm như vậy, quê hương đã gắn bó với ta không biết qua bao cái Tết. Nhưng rồi khi ta lớn lên, trưởng thành, ta sẽ có cuộc sống riêng ở nơi thành thị ồn ào. Những lo âu, suy tư cứ bủa vây ta khiến ta mệt mỏi. Lúc đó, ta thật muốn về với quê mẹ, trải nghiệm những thứ mà hồi bé ta hay làm. Quê hương thật có ý nghĩa. Ta nên biết yêu quê hương, đừng ghét quê hương. Bởi nếu không có quê hương thì ta sẽ không có được những kỉ niệm tốt, tuyệt vời...Từ trái nghĩa yêu, hiểu Chiều hôm nhớ nhà - mẫu 3Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏiChiều hôm nhớ nhàChiều trời bảng lảng bóng hoàng hônTiếng ốc xa đưa vẳng trống mái ngư ông về viễn phốGõ sừng mục tử lại cô thônNgàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn.Bà Huyện Thanh QuanCâu 1 Hãy giải thích nghĩa của các từ in 2 Các từ Hán Việt tạo sắc thái gì cho bài lờiCâu 1 Nghĩa hoàng hôn, ngư ông, mục tử, lữ thứ, hàn ôn+ Hoàng hôn là khoảng thời gian sau khi Mặt Trời lặn cho đến khi trời tối hẳn.+ Ngư ông là người đánh cá hay bắt cá hay câu cá.+ Mục tử là người chăn nuôi động vật.+ Lữ thứ chỗ để tạm nghỉ lại của người đi đường xa.+ Hàn ôn là nỗi lạnh ấm, tương tự như là kể chuyện vui, chuyện buồn, nói chuyện 2 Các từ Hán Việt tạo sắc thái tạo sắc thái trang trọng, tao nhã, tinh tế, tạo ra sắc thái cổ, phù hợp với xã hội xưa.
Ngày đăng 27/07/2014, 0920 Về bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của bà Huyện Thanh Quan Trong nền văn học Việt Nam trung đại, số nữ sĩ còn đứng lại với thời gian không phải là nhiều. Chúng ta thường nhắc đến 3 gương mặt tiêu biểu là Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương và Bà huyện Thanh Quan. Ba nữ sĩ này, mỗi người một vẻ, mỗi người có một đóng góp riêng cho thơ văn nước nhà. Trong 3 nữ sĩ đó, Bà huyện Thanh Quan khiêm nhường đứng riêng một chiếu với chùm thơ khoảng 5 - 6 bài có bài vẫn còn gây tranh cãi, bị xem là của nhà thơ khác trong đó thường được nhắc đến hơn cả là bài thơ Chiều hôm nhớ nhà. Bài thơ Nôm Đường luật này diễn tả nỗi nhớ nhà của người nữ sĩ khi cô đơn thân gái dặm trường Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn Gác mái ngư ông về viễn phố Gõ sừng mục tử lại cô thôn Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn? Bài thơ đưa chúng ta vào một không - thời gian tưởng như cụ thể nhưng lại khá mơ hồ. Thời điểm “trời chiều” được cụ thể hoá trong sự “bảng lảng” của “bóng hoàng hôn” mang đến cho ta một buổi chiều như bao buổi chiều khác trong thơ ca xưa. Có nỗi nhớ của người con xa quê Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều Ca dao Buồn trông cửa bề chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa Truyện Kiều Câu phá đề gợi cho ta một cảm giác mệt mỏi và chậm rãi của thời gian ban chiều, một thời điểm mang tính ám ảnh văn hoá trong thơ xưa. Câu thơ bắt đầu bằng “trời chiều” và khép lại bằng “bóng hoàng hôn” như muốn hắt cả ánh vàng của nắng chiều lên con người và cảnh vật. Thời điểm chiều hôm là lúc con người trở về sum họp, quây quần cùng gia đình nhưng dường như nhân vật trữ tình trong bài thơ vẫn tạm nghỉ chân trên hành trình xa xôi và vắng vẻ. Ở không gian đó con người có thể nghe thấy “tiếng ốc xa đưa” và tiếng “vẳng trống đồn”. Những âm thanh này vốn không xa lạ nhưng khi đặt vào khung cảnh đất khách quê người thì lại gợi lên sự bâng khuâng, se buồn trong lòng người lữ khách. Hai âm thanh đan quyện vào nhau như muốn báo hiệu sự vội vã của thời gian đang đổ dần về tối. Thời điểm “trời chiều” cùng sự báo hiệu của tiếng ốc và tiếng trống sẽ làm nền cho hai câu thực Gác mái ngư ông về viễn phố Gõ sừng mục tử lại cô thôn Đến hai câu thơ này ta mới thấy hiện ra một cách rõ nét hơn những mã nghệ thuật của thơ ca nhà nho xưa dù Nguyễn Thị Hinh có là một nữ sĩ nhưng khi sáng tác bà vẫn chịu ảnh hưởng của quan niệm văn học Nho gia. Xuân Diệu đã từng gọi bà là “Bà chúa hoàng hôn”. Đọc hai câu thực chúng ta sẽ cảm nhận rõ hơn lời khen ngợi của “nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ mới”. Vẫn là hình tượng quen thuộc của ngư ông và mục tử trong bộ tứ “ngư - tiều - canh - mục” trong thơ xưa, vẫn là động tác “gác mái”, “gõ sừng” ấy gắn liền với hai biểu tượng này. Nó nhắc ta nhớ tới những câu thơ như Ngư lão buông câu ngồi mép bến Mục đồng té nước tắm đầu sông hay Viễn tự chung thanh thôi khách bộ Mục đồng xung địch dẫn ngưu qui Nhà nho xưa quan niệm giống nhau về một cuộc sống thanh sạch gắn với nông thôn và thiên nhiên trong các nghề ngư - tiều - canh - mục. Đó là những hình ảnh đẹp mãi có sức cuốn hút đối với họ. Nó mang âm hưởng từ những vần thơ từ xa lắm, tận thời Đường ở bên Tàu với những Cô chu soa lạp ông Độc điếu hàn giang tuyết Liễu Tông Nguyên hay Tá vấn tửu gia hà xứ hữu Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn Đỗ Mục Tuy nhiên giữa mảng lưới văn hoá đầy hình tượng, điển tích đó cái còn lại của Thanh Quan là gì? Đó có phải là cách dùng những từ Hán Việt “ngư ông”, “viễn phố”, “mục đồng”, “cô thôn” tạo cho bài thơ sự trang trọng và cổ kính đầy hấp dẫn? Điều này chỉ đúng một phần. Cái còn lại của dòng thơ, dấu ấn của Thanh Quan chính là ở hai tiếng “cô”, “viễn” tưởng như vô tình nhà thơ đặt theo niêm luật đăng đối ở tiếng thứ 6 của hai câu thực. Nhà thơ đâu có biết “ngư ông” và “mục tử” nghĩ gì và cũng đâu có biết họ đi về đâu. Với cái nhìn đầy màu sắc chủ quan, nhân vật trữ tình đã phổ cảm xúc của mình vào hai hình tượng đó. Con người lẻ loi trên hành trình thiên lý tự dưng lại cảm nhận về cảnh vật quanh mình như cảm nhận về thân phận của mình, thấy chúng cũng trở nên “cô”, “viễn” như thường. Chúng ta lại nhớ tới cảm xúc của người chinh phụ cô đơn ngồi trong đêm vắng tủi buồn với cả trăng - hoa vô tri, vô giác Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau. Dấu ấn chủ quan của nhân vật trữ tình thoáng hiện ra rồi lại chìm khuất đi giữa mịt mù thiên nhiên Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Sự tương phản trong bức tranh thơ gợi lên mộtchút gì nhỏ nhoi mà yếu đuối của cánh chim và hình ảnh người khách giữa chiều tà. Vẫn là “ngàn mai” ấy, ngàn mai từng nở trắng trong thơ xưa Tuyết mai trắng bãi, phù dung đỏ bờ - Chinh phụ ngâm nhưng đặt cạnh hình ảnh “gió cuốn” đã gợi lên sự rộng lớn của không gian như muốn nuốt chìm cánh chim nhỏ nhoi vào trong đó, như cánh “chim hôm thoi thót về rừng” trong Truyện Kiều và xa hơn nữa là hình ảnh Chúng điểu cao phi tận Cô vân độc khứ nhàn trong thơ Lí Bạch xưa. Con người luôn thấy nhỏ bé trước thiên nhiên. Đứng trước thiên nhiên, người xưa muốn mình là một tiểu vũ trụ cố gắng hoà hợp và cả hoà tan vào trong đại khối, đại vũ trụ vô cùng đang bao bọc quanh mình. Người “khách” đang “bước dồn” qua “dặm liễu” kia liệu lòng có còn thôi ám ảnh về Tóc ai trao chửa bạc màu Liễu ai bẻ tặng bên cầu còn tươi Nguyễn Bính hay điển tích “Bá kiều chiết liễu” cùng hình ảnh “Hoa dương sầu sát độ giang nhân” Trịnh Cốc hay kí ức về Sông Tần một dải xanh xanh Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương quan ở chốn quê nhà, nơi ly biệt, lưu luyến người thân mà “Tiễn đưa một chén quan hà - Xuân đình thoắt đã dạo ra Cao đình” Truyện Kiều. Con người - nhân vật trữ tình hay là một dạng phân thân của hình tượng này “khách” - như muốn giấu mình đi. Đó là đặc trưng phi ngã, vô ngã của thơ ca trung đại. Con người không xuất hiện trong vai trò cá nhân. Nó chỉ thể hiện mình trong các mối quan hệ cộng đồng, làng xóm, họ mạc, gia đình. Con người có khi là “khách” trên chính quê hương mình như trong thơ Hạ Tri Chương Nhi đồng tương kiến bất tương thức Tiếu vấn Khách tòng hà xứ lai? hay trở thành “Càn khôn nhất hủ nho” hoặc “Giang Hán tư quy khách” trong thơ Đỗ Phủ. Sự đơn chiếc, cô lẻ đã thấm sâu trong nó một nỗi buồn khôn tả. Nhịp “bước dồn” chỉ là vẻ bề ngoài che đi nỗi lòng nặng trĩu ưu tư của nhân vật trữ tình. Tình cảm được dồn nén và bật ra thành câu hỏi Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn? Thơ ca nhà nho xưa thường hướng tới các vấn đề thế sự, đạo lý, hay than thở về thế đạo nhân tâm, tránh nói đến tình cảm cá nhân riêng tư trong đời sống thường ngày. Tuy nhiên thơ ca nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX mang trong nó sắc thái chủ tình rõ rệt, chủ trương bày tỏ những cảm xúc vốn bị đạo đức Nho giáo chế ngự bấy lâu nay. Có lẽ tiếng nói tiền khu mang tính tiên phong của Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương đã là tiền đề cho hai câu kết này. Qua điển tích “Chương Đài” cùng cặp đại từ nhân xưng “người - kẻ” chúng ta có thể thấy người mà nhân vật trữ tình hướng tới là nửa kia của mình. Câu chuyện về bài thơ “Chương Đài liễu, Chương Đài liễu - Tích nhật thanh thanh kim tại phủ? - Túng sử trường điều tự cựu thuỳ - Giả ưng phan chiết tha nhân thủ” còn đó như minh chứng cho khao khát đoàn viên, sống trong hạnh phúc lứa đôi của người lữ thứ. Chính vì cảnh lữ thứ mà khát khao mong gặp người chia sẻ, “kể nỗi hàn ôn” càng da diết hơn. Nhu cầu sẻ chia đó vẫn thường trực trong mỗi con người tự ngàn xưa. Bài thơ gói gọn trong thể Đường luật thất ngôn bát cú nhưng nó đã nói được tiếng lòng của người nữ sĩ. Cảm giác nhớ nhà của con người khi “Lòng còn gửi áng mây vàng” Truyện Kiều là điều dễ hiểu. Trong không gian tha hương thời trung đại, con người thấy lẻ loi, yếu đuối khi bị bứt ra khỏi không gian quê nhà quen thuộc nên chỉ ra khỏi nhà mười dặm đã có cảm giác “lữ thứ, hoàng hoa” là thế. Đó không chỉ là một mã nghệ thuật mà còn phản ánh một phần sự thực của tâm trạng con người. . chùm thơ khoảng 5 - 6 bài có bài vẫn còn gây tranh cãi, bị xem là của nhà thơ khác trong đó thường được nhắc đến hơn cả là bài thơ Chiều hôm nhớ nhà. Bài thơ Nôm Đường luật này diễn tả nỗi nhớ. Về bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của bà Huyện Thanh Quan Trong nền văn học Việt Nam trung đại, số nữ sĩ còn đứng. Thị Điểm, Hồ Xuân Hương và Bà huyện Thanh Quan. Ba nữ sĩ này, mỗi người một vẻ, mỗi người có một đóng góp riêng cho thơ văn nước nhà. Trong 3 nữ sĩ đó, Bà huyện Thanh Quan khiêm nhường đứng riêng - Xem thêm -Xem thêm Về bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của bà Huyện Thanh Quan doc, Về bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của bà Huyện Thanh Quan doc,
bài thơ chiều hôm nhớ nhà